Triển khai điện toán đám mây của Ngân hàng Việt Nam

         1.    Hoạt động ngân hàng Việt Nam phù hợp với Điện toán đám mây

            -  Hoạt động của ngân hàng phù hợp với việc ứng dụng CNTT:

(i) Hoạt động ngân hàng có tính hệ thống cao, liên kết chặt chẽ trong từng ngân hàng và giữa các ngân hàng theo cả mô hình hàng ngang và hàng dọc, tạo thành mạng lưới cung cấp dịch vụ, tiện ích ngân hàng cho xã hội và được quản lý chặt chẽ bởi một NHTW;

(ii) Toàn bộ các hoạt động, nghiệp vụ ngân hàng từ chỉ đạo điều hành nội bộ, lẫn cung cấp dịch vụ ra bên ngoài đều dựa trên chuỗi các hoạt động: tiếp nhận, xử lý, tổng hợp, ghi nhận, truyền tải và lưu trữ thông tin;

(iii) Các hoạt động ngân hàng không chỉ bó hẹp trong phạm vi một ngân hàng, một quốc gia mà có tính liên kết toàn cầu.

-  CNTT ngành Ngân hàng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ và trở thành thành phần không thể thiếu trong hoạt động ngân hàng. Tuy vậy, hiện nay ngành Ngân hàng cũng đang phải đương đầu với những thách thức về đầu tư cho hạ tầng CNTT như sau:

(i) Hạ tầng, thiết bị đầu tư theo dự án/nghiệp vụ thường thừa công suất ở giai đoạn đầu và thiếu công suất ở các giai đoạn cuối;

(ii) Đầu tư phân tán chi phí lớn và hiệu quả không cao;

(ii) Khó đáp ứng kịp thời tài nguyên CNTT theo các yêu cầu triển khai đột xuất của nghiệp vụ;
(iii) Khó đánh giá được hiệu quả đầu tư của hạ tầng CNTT.

-    Điều kiện tập trung hóa đã sẵn sàng:
(i) Hạ tầng truyền thông quốc gia đã được cải thiện đáng kể, cho phép thiết lập được hệ thống mạng WAN trên phạm vi toàn quốc, với băng thông rộng và ổn định dựa trên hạ tầng cáp quang quốc gia, sẵn sàng hỗ trợ cho mô hình tập trung hóa hoạt động;
(ii) Cùng với những thành tựu khoa học vượt trội, tài nguyên CNTT biến đổi nhanh chóng và theo xu hướng ngày càng mở rộng hơn trên các thiết bị có kích thước không thay đổi. Bên cạnh đó, công nghệ ảo hóa cho phép dễ dàng điều chỉnh dung lượng tài nguyên cho phù hợp với yêu cầu của từng ứng dụng và thuận tiện hơn nhiều trong quản lý, triển khai đưa vào sử dụng. Do vậy, năng lực xử lý của các hệ thống hạ tầng CNTT ngày càng tăng cao, đáp ứng được yêu cầu xử lý tập trung nhiều tác vụ; Hơn nữa, toàn bộ các hãng CNTT lớn trên thế giới đều đang phát triển các sản phẩm, hỗ trợ dịch vụ cho xu hướng tập trung hóa;
(iii) Cùng với việc hiện đại hóa, chuẩn hóa các hoạt động, nghiệp vụ theo thông lệ quốc tế, hiện nay các ngân hàng Việt Nam đang trong quá trình chuyển dịch từ mô hình nghiệp vụ phân tán sang mô hình tập trung hóa; mở rộng các dịch vụ, tiện ích ngân hàng hiện đại để chuyển dịch cơ cấu nguồn thu chủ yếu của ngân hàng từ tín dụng sang dịch vụ và đồng thời mở rộng phạm vi, đối tượng khách hàng


-   Để giải quyết tổng thể các thách thức về hạ tầng CNTT, giải pháp về Điện toán đám mây được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng là do các đặc tính của nó:

(i) Điện toán đám mây cung cấp các dịch vụ trên mạng diện rộng, internet và có thể truy cập thông qua các thiết bị truy suất đa dạng (ví dụ như điện thoại di động, máy tính bảng, máy tính xách tay, và máy trạm);

(ii) Tài nguyên dùng chung phục vụ cho nhiều mục đích sử dụng;

(iii) Tài nguyên có thể được cung cấp và giải phóng một cách nhanh chóng tương xứng với nhu cầu;

(iv) Việc sử dụng tài nguyên có thể được theo dõi, kiểm soát và báo cáo một cách minh bạch.

Từ đó, có thể thấy hệ thống ngân hàng Việt Nam đến với Điện toán đám mây là từ nhu cầu thực tế của bản thân ngân hàng, hơn là đơn thuần đầu tư chạy theo xu hướng công nghệ

2. Tình hình triển khai điện toán đám mây của Ngân hàng Việt Nam

Kết quả khảo sát chưa đầy đủ của một nhóm nghiên cứu về thực tế và nhu cầu ứng dụng Điện toán đám mây trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng Việt Nam ở thời điểm cuối 2013 như sau

Thông tin

Số lượng

Tỷ lệ

%

Tổng số ngân hàng tham gia khảo sát

31

 

Số ngân hàng đã/sẽ có kế hoạch ứng dụng ĐTĐM tính đến 2015

25

80.65

Số ngân hàng đã triển khai ĐTĐM

6

19.35

Số ngân hàng có kế hoạch tính đến 2015

24

77.42

Lựa chọn Mô hình triển khai

Dùng riêng (Private)

15

48.39

Dùng chung (Public)

3

9.68

Hỗn hợp (Hybrid)

5

16.13

Mô hình ứng dụng sẽ được áp dụng

Dịch vụ cung cấp hạ tầng thiết bị (Iaas)

8

33.33

Dịch vụ cung cấp nền tảng vận hành (Paas)

3

12.5

Dịch vụ cung cấp phần mềm ứng dụng (Saas)

13

54.17

     
     

                  Kết quả thu được từ chương trình khảo sát, tính đến hết năm 2015 hơn 80% các ngân hàng có kế hoạch ứng dụng Điện toán đám mây vào các hoạt động của mình, trong đó mô hình ứng dụng được lựa chọn nhiều nhất đó là SaaS (chiếm 54.17%) và mô hình triển khai được lựa chọn nhiều nhất đó là Private cloud (chiếm 48.39%). Trong đó, gần 20% (06) ngân hàng đã trang bị, sử dụng Điện toán đám mây.

3.  Khuyến nghị về triển khai mô hình Điện toán đám mây:

-  Khuyến khích các ngân hàng tổ chức xây dựng hệ thống thông tin theo công nghệ Điện toán đám mây;

-  Xây dựng Điện toán đám mây là một quá trình, các ngân hàng nên bắt đầu từ quá trình tập trung hóa và ảo hóa hạ tầng máy chủ và hệ thống mạng;

-  Khó tính toán để đưa ra chính xác dung lượng, cấu hình tối ưu nhất cho đám mây. Nói cách khác, đầu tư một lần đám mây riêng sẽ không thể giải quyết được tất cả các yêu cầu về hạ tầng CNTT và vẫn phải có các bước mở rộng, hoàn thiện;

-  Xây dựng đám mây là không khó, nhưng việc quản trị đám mây sẽ là nhiệm vụ hết sức nặng nề, đòi hỏi phải có tổ chức CNTT hoạt động chuyên nghiệp (nhân lực được đào tạo một cách bài bản, các quy trình được chuẩn hóa). Việc này sẽ mất rất nhiều thời gian và tốn nhiều nguồn lực;

-  An ninh bảo mật Điện toán đám mây là vấn đề lớn, phức tạp và phải được tiếp cận từ góc độ quản lý rủi ro, được xây dựng trong chiến lược quản lý rủi ro hoạt động chung của mỗi ngân hàng;

-  Với xu thế thuê dịch vụ bên ngoài, sử dụng dịch vụ trên Điện toán đám mây dùng chung cũng là một trong các lựa chọn phù hợp với các ngân hàng có quy mô nhỏ và hạn chế về chi phí đầu tư, nguồn lực CNTT.

Nhưng việc lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ rất quan trọng để đảm bảo tính bảo mật thông tin, an toàn của dữ liệu hoạt động và hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin.

(Theo Ngân hàng nhà nước Việt Nam)